...Học Phật pháp cần phải nỗ lực tích cực,
chân chánh tu tập,
không nên học "khẩu đầu thiền" (thiền ở cái miệng).
Chỉ học và biết giảng kinh, thuyết pháp, nói lời khéo léo, biện bác lanh lợi hoặc môi mép rằng: "không chân cũng không giả là trung đạo liễu nghĩa".
Bởi vì, người học khẩu đầu thiền thì.. một chút công phu chân chánh cũng không có, hoặc lúc nào cũng muốn "mình hơn người", tật đố ganh tỵ luôn gây chướng ngại cho người khác, cũng như không ngừng tạo ra nghiệp ác thì người ấy không đạt được gì cả.
"Quân tử hữu thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác; tiểu nhân phản thị."
...E rằng có sự pha trộn nào giữa "Chân Tiểu Nhân" và "Ngụy Quân Tử" chăng? Lậu hoặc này quá vi tế để thấy biết! Ta cần thấy biết để đoạn tận, bởi vì một khi lậu hoặc đã đoạn tận, tuệ giác mới khai mở và không còn tạo nghiệp.
Cùng với tam tạng Pháp Quá khứ, hiện tại hiền thánh Tăng Nguyện rủ lòng tác chứng...
Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013
Bổn tâm
Hôm qua có Vị Tổ hỏi Quý vị:
Lúc bàn tay hướng hạ, ngón tay sẽ ngược; lúc bàn tay hướng thượng, ngón tay sẽ thuận?
hay là:
Lúc bàn tay hướng hạ, ngón tay sẽ thuận; lúc bàn tay hướng thượng, ngón tay sẽ ngược?
“ A tu la nên biết:
Xưa vậy nay cũng vậy
Ngồi im bị người chê
Nói nhiều bị người chê
Nói vừa phải bị chê
Làm người không bị chê
Thật khó tìm ở đời. ”
Pháp Cú 227
...Để trả lời 2 câu trên, ta cần nên ứng dụng tinh thần "tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên" vậy.
Ai đã khai ngộ, tức đã nhận thức được bổn lai diện mục, " đã biết mũi của mình ngang hay dọc; cũng đã biết cánh tay đưa lên thì ngón tay thuận hay ngược (and vice-versa) "
Có Vị Tổ từng nói: " Nếu không nhận thức được bổn tâm mình, thời học pháp vô ích! "
Túm lợi, tôi khởi suy thế này: "Thế nào là bổn lai diện mục của ông/bà ?"
(có nghĩa là "Mặt mũi xưa nay của ông/bà là gì ?")
Lúc bàn tay hướng hạ, ngón tay sẽ ngược; lúc bàn tay hướng thượng, ngón tay sẽ thuận?
hay là:
Lúc bàn tay hướng hạ, ngón tay sẽ thuận; lúc bàn tay hướng thượng, ngón tay sẽ ngược?
“ A tu la nên biết:
Xưa vậy nay cũng vậy
Ngồi im bị người chê
Nói nhiều bị người chê
Nói vừa phải bị chê
Làm người không bị chê
Thật khó tìm ở đời. ”
Pháp Cú 227
...Để trả lời 2 câu trên, ta cần nên ứng dụng tinh thần "tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên" vậy.
Ai đã khai ngộ, tức đã nhận thức được bổn lai diện mục, " đã biết mũi của mình ngang hay dọc; cũng đã biết cánh tay đưa lên thì ngón tay thuận hay ngược (and vice-versa) "
Có Vị Tổ từng nói: " Nếu không nhận thức được bổn tâm mình, thời học pháp vô ích! "
Túm lợi, tôi khởi suy thế này: "Thế nào là bổn lai diện mục của ông/bà ?"
(có nghĩa là "Mặt mũi xưa nay của ông/bà là gì ?")
Thứ Tư, 30 tháng 1, 2013
Phía sau có một số "thuận duyên" đang đuổi theo ta
...Khi Đức Phật đến và biết
rằng anh ta muốn gặp
Ngài. Angulimala muốn giết Phật bởi vì anh ta đã sát hại 999 người. Anh ta đã thề rằng sẽ giết đến
người thứ một ngàn, vì vậy anh ta rất khoái trá khi nhìn
thấy Đức Phật và cố gắng
bắt Ngài.
Đôi khi Đức Phật cũng vận dụng một chút
phép mầu. Biết rằng khó bề chinh phục con người này bằng lời thuyết giáo, Đức Phật thong thả bước trên
đường và cho anh ta đuổi
theo. Dù chạy gần bốn dặm, anh ta vẫn không thể nào đến gần
được Phật. Anh ta yêu cầu Phật dừng lại và Đức Phật biết là đã đến lúc ngài nói với anh ta.
- Đức Phật nói: “Ta đã dừng lại từ lâu rồi, chỉ có ngươi mới còn đang chạy”.
- Angulimala nói: “Làm sao ông nói ông đã dừng lại, tôi thấy ông vẫn đang đi kia mà”.
- Đức Phật đáp: “Ta dừng lại có nghĩa là ta đã dừng nghiệp giết hại và không làm đau khổ chúng sanh. Còn ngươi vẫn còn chạy nghĩa là ngươi vẫn còn hành động tàn ác. Nếu ngươi dừng lại thì ngươi có thể đuổi kịp ta”.
- Thế là Angulimala nói: “Tôi không thể nào hiểu được những gì ông nói”.
- Phật trả lời: “Ta đã ngừng sự giết hại còn ngươi vẫn cứ tiếp tục như thế, nghĩa là vẫn còn đang chạy. Ngươi đang chạy trong vòng luân hồi”.
Thế
là Angulimala chợt hiểu ra mình đã sai nên quyết định qui y Phật và trở thành tu sĩ
bắt đầu thiền định. Sau đó anh ta đạt quả A La Hán và đắc
Niết Bàn Cực Lạc. Nghiệp xấu không còn cơ hội bám theo anh ta nữa. Anh ta đã trau dồi thiện nghiệp và
nghiệp xấu không còn cơ hội ảnh hưởng đến anh ta nữa.
When the Buddha came to know that he went to see him. Angulimala wanted to kill
the Buddha because he had completed 999 murders. His vow was to kill the
thousandth, so he was very happy when he saw the Buddha and tried to catch him.
Occasionally the Buddha performed a little miracle. Knowing it was difficult to
control this man by preaching, the Buddha walked in a normal way and allowed him
to run. Although he ran nearly 4 miles, he could not come near to the Buddha.
Then he asked the Buddha to stop and the Buddha knew it was time for him to talk
to him.
- The Buddha said: “I have already stopped, you’re the one who run.”
- Angulimala said: “How can you say you have stopped, I saw you walking.”
- The Buddha replied: “I have stopped means I have stopped killing or destroying other living beings. You are the one who is running means you are still committing evil. If you stop running then you can catch me.”
- Then Angulimala said: “I cannot understand what you said.”
- Then the Buddha said: “I have stopped killing and you’re doing just that, that is the meaning of running. You are running in samsara.”
Then Angulimala came to know that he
was wrong and decided to follow the Buddha and he became a monk and started to
meditate. Later he attained arahantahood and gained nirvanic bliss. Bad karma
had no chance to come to catch him. He went on developing good karma and the bad
karma had no chance to affect him.
...đọc qua đoạn khai thị trên, tôi bỗng dâng một niềm hạnh phúc ngộ kỳ. Tự mỉm cười với chính tôi và thầm nhủ: "Phía sau có một số "thuận duyên" đang đuổi theo ta...dù kỳ thực ban đầu họ luôn ghét ta, luôn dõi theo ta, giám sát ta trên từng cây số và luôn muốn hãm hại ta trong khi ta chẳng làm điều gì phương hại đến họ cả. Nghịch duyên cũng chính là Thuận duyên vậy."
NAM MÔ ĐẠI BI HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT.
KÍNH LẠY PHẬT MƯỜI PHƯƠNG TỪ BI GIA HỘ CHO CON (^.^)
Chúng ta hãy suy ngẫm những lời dạy vàng ngọc sau đây của chư Phật, chư Tổ:
Lấy oán báo oán
Oán nghiệp chập chùng
Lấy ơn báo oán
Oán nghiệp tiêu tan
Thắng lợi sinh thù oán
Thất bại chịu khổ đau
Không hơn thua, thắng bại
Sống an nhiên, tự tại
Người hơn thì thêm oán
Kẻ thua ngủ chẳng yên
Hơn thua đều xả bỏ
Giấc ngủ được bình yên
Hận thù diệt hận thù
Đời đời không thể có
Từ bi xóa hận thù
Định luật đúng thiên thu
Mô Phật! Con sẽ tu...
Đọc hay trì tụng kinh kệ?
Kệ Khai Kinh
Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp
Bách niên vạn kiếp nan tao ngộ
Ngã kim kiếu văn đắc thọ trì
Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa.
Phật pháp rộng sâu rất nhiệm màu
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Con nay nghe thấy chuyên trì tụng
Nguyện rõ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
HT. Thích Trí Tịnh nói về ý nghĩa & giá trị của việc tụng kinh
Ngoài việc trở thành một dịch giả vĩ đại của kinh điển Đại thừa, đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh đến nay đã có trên 70 năm tụng kinh. Lời khai thị của Hòa thượng dưới đây có ý nghĩa rất lớn cho người đọc tụng và thọ trì kinh để mở mang tâm trí và thâm nhập kinh tạng.
Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp
Bách niên vạn kiếp nan tao ngộ
Ngã kim kiếu văn đắc thọ trì
Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa.
Phật pháp rộng sâu rất nhiệm màu
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Con nay nghe thấy chuyên trì tụng
Nguyện rõ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
HT. Thích Trí Tịnh nói về ý nghĩa & giá trị của việc tụng kinh
Ngoài việc trở thành một dịch giả vĩ đại của kinh điển Đại thừa, đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh đến nay đã có trên 70 năm tụng kinh. Lời khai thị của Hòa thượng dưới đây có ý nghĩa rất lớn cho người đọc tụng và thọ trì kinh để mở mang tâm trí và thâm nhập kinh tạng.
Bạch Sư Ông, tại Việt Nam có người dùng từ đọc kinh, có người dùng từ tụng kinh. Ý nghĩa của hai thuật ngữ này thế nào?
Các huynh đệ nên hiểu “tụng” là học thuộc lòng, những khi lên chánh điện mặc áo tràng đắp y, thắp nhang lễ Phật, có chuông có mõ, mở kinh ra rồi cho đó là tụng. Kỳ thật đó không phải là tụng kinh mà chỉ là đọc kinh. Tụng kinh là phải đọc thuộc lòng kinh. Nên nhớ kỹ điều đó! Khi đã thuộc lòng rồi, mình tụng mới có lợi ích lớn. Không những lúc mặc áo tràng đắp y lên điện Phật, mà trong những khi đi đứng nằm ngồi, thỉnh thoảng những lời kinh do mình thuộc nó sẽ khởi lên trong tâm.
Như người đời thuộc những bài ca mà họ ưa thích, thì những khi đi đứng nằm ngồi họ thường khe khẽ cất lên vài câu, hay trong tâm cũng thường nghĩ nhớ đến những bài ca bài hát đó. Cũng vậy, nếu mình thường niệm Phật thì nó khởi lên câu niệm Phật. Còn nếu mình thuộc lòng kinh thì những lời kinh thường hay khởi lên thì ngay lúc đó là mình đã tụng kinh rồi.
Sư Ông thường dạy rằng lời Phật thật quý báu. Vậy, người tụng kinh do tôn kính lời Phật sẽ đạt được lợi ích gì?
Mỗi khi tụng kinh, mình nhớ lại những lời dạy của Phật thì đó là mình niệm Pháp. Khoảng thời gian mình tụng kinh thì những niệm phiền não, những niệm xấu, niệm ác bị đè phục nên không khởi lên; do bị đè phục nên nó yếu đi, nó đã yếu thì lúc có khởi lên cũng khởi yếu. Đây là nói phục, còn đoạn là khác nữa. Nhưng nhờ cái phục nên nó yếu. Vì yếu nên tội chướng nghiệp chướng cũng yếu dần. Khi bên tội chướng, nghiệp chướng yếu thì thiện căn công đức sẽ khởi dậy. Hai cái đó như hai cái giá cân. Nếu bên này nặng thì bên kia bị nhẹ. Nếu bên này nhẹ thì bên kia nặng, lẽ đương nhiên là như vậy. Nói cách khác, ngoài phước báu do tôn kính Phật pháp, người tụng kinh có thể làm tiêu trừ nghiệp chướng.
Trong đời tu của Sư Ông, hẳn nhờ tụng kinh Sư ông ngộ ra nhiều điều. Xin Sư Ông đơn cử một ví dụ về cái ngộ nhờ tụng kinh.
Nay tôi sẽ nói rõ điều này cho các huynhđệ nghe, vì thông thường ít ai nghĩ đến. Nhân khi tụng kinh Kim Cang tôi đã khám phá ra một điều mà từ lâu suy nghĩ không biết vì sao trong kinh nói một vị Tu đà hoàn dứt trừ được kiến phiền não, còn tư phiền não thì chậm nhất là trong bảy đời dứt hết thành A la hán. Vị Tu đà hoàn không có đời thứ tám, chỉ đến đời thứ bảy là cuối cùng. Trong kinh nói rõ ràng, chứ không nói việc tu hành gì cả.
Tôi thường suy nghĩ việc đó hoài, nghiệm mãi không ra. Cho đến khi tụng kinh Kim Cang đến đoạn Phật hỏi ngài Tu Bồ Đề: Vị Tu đà hoàn có tự nói mình là Tu đà hoàn không? Ngài Tu Bồ Đề đáp là không. Bởi vì Tu đà hoàn gọi là nhập lưu. Nói nhập mà không chỗ nhập. Không nhập vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, do đó gọi là Tu đà hoàn. Ngay đó tôi hoát nhiên phá giải được cái điều mà tốn không biết bao nhiêu thời gian suy nghĩ vềlý do tại sao mà vị Tu đà hoàn không có đời thứ tám, chỉ nội trong bảy đời dứt tư hoặc chứng A la hán.
Nghĩa là vị Tu đà hoàn sau khi kiến hoặcđã dứt rồi thì tâm của vị ấy không còn bị chi phối bởi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Do không bị chi phối nên tư hoặc không có dịp phát khởi. Vì không phát khởi nên lần lần nó mòn yếu đi. Do mòn yếu nên nó dứt lần lần. Dứt một phần thì thành Tư đà hàm. Dứt thêm phần nữa thì thành A na hàm. Dứt thêm nữa cho đến dứt sạch hết thì thành A la hán. Nó dứt từng phần, dứt lần lần.
Cũng thế, hằng ngày mình có niệm Phật tụng kinh, thì lúc đó phiền não, nghiệp chướng nó không khởi. Nó không khởi trong khoảng thời gian mình có niệm Phật, tụng kinh, chứ không phải nó luôn luôn không khởi. Nhưng có như vậy thì nó yếu lần đi. Nó yếu lầnđi thì cái lành cái tốt phát triển lên thì gọi là mình có tu. Phiền não nghiệp chướng bị dằn bị phục thì thiện căn công đức phát sanh, cho đến lúc nào đó sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp không còn chi phối nội tâm mình là thành công. Mà cũng không biết đến lúc nào, bởi vì chủng tử phàm phu trong vòng sanh tử luân hồi của mình nó nặng nề lắm, phiền não nghiệp chướng nặng nề lắm. Nhưng nếu hằng ngày mình có phương pháp để dằn để phục, thì nó sẽ yếu lần lần. Bằng không nếu bị sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp chi phối thì mỗi ngày chẳng những nó không yếu mà lại mạnh thêm, thì mình càng chui đầu sâu vào vòng sanh tử luân hồi. Lẽ tất nhiên hai ngả rõ ràng như vậy.
Trên đây chỉ là một ví dụ. Nếu các huynh đệ mỗi ngày đều tụng kinh thì sẽ tỏ rõ nhiều điều bổ ích. Do đó, tôi khuyên các huynh đệ siêng năng tụng kinh để thâm nhập trí Phật.
Tại Việt Nam, khi tụng kinh các chùa còn niệm Phật. Xin Sư Ông khai thị về phương pháp niệm Phật trong tụng kinh?
Tôi nói rõ để huynh đệ biết rằng tụng kinh và niệm Phật đúng cách là thật tu. Khi niệm Phật thì không duyên việc khác. Không duyên theo sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Chỉ duyên nơi âm thanh câu niệm Phật. Huân tập mỗi ngày một mạnh lên nơi hạnh niệm Phật thì những niệm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp khác, mỗi ngày một bớt đi, vì trong khoảng thời gian đó nó không khởi được thì nó phải giảm bớt. Mà nếu thời gian niệm Phật càng ngày càng nhiều thì tất nhiên mỗi ngày mình lần lần tiến lên.
Cũng như người tu thiền giữ tâm đừng cho khởi vọng, tất nhiên là làm sao cho nội tâm đừng bị chi phối bởi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nó không chi phối thì phiền não nghiệp chướng không do đâu mà sanh khởi. Phiền não nghiệp chướng không khởi được thì lần lần nhẹ đi, cho đến lúc nào đó cũng như cái màn che bị rách, bị tan thì ánh sáng từ trong nội tâm phát ra, gọi là tỏ ngộ. Hai đường tu dù Thiền dù Tịnh giống nhau, chứ không chi khác.
Vậy theo Sư ông tu thật chất là không để tâm dính vào sáu trần cảnh?
Đúng vậy! Hằng ngày mình bị sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp chi phối là không có tu. Lúc nào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nó không chi phối nội tâm của mình được, thì chính lúc đó là lúc mình tu. Nên nhớ kỹ như vậy! Chứ không phải đợi đến lúc mặc áo, đắp y lên chánh điện. Mặc áo đắp y lên chánh điện, lễ Phật mà bị cảnh ngoài sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nó chi phối thì chưa phải là có tu.
Pháp của Phật dạy nói cho rõ là tu tâm. Còn nơi thân và khẩu chỉ trợ giúp cho nội tâm mà thôi. Nói vậy không phải phế bỏ những thời khóa tu tập, ban đầu sức tu còn yếu thì phải nương vào thời khóa, quan trọng ở chỗ là ngoài thời khóa cũng phải tu. Do đó niệm Phật không luận là lúc đi, đứng, nằm, ngồi gì, nếu có niệm luôn thì có tu, mà bị gián đoạn là không có tu. Đó là điểm chánh yếu. Tất cả các pháp môn khác cũng đều như vậy.
Bạch Sư Ông để thâm nhập kinh tạng khi tụng kinh, người tụng phải làm gì để đạt được?
Để được như thế, khi tụng kinh phải thuộc lòng kinh. Chẳng những các thời khóa trong chùa phải thuộc mà các kinh mình thích cũng phải thuộc. Như tôi cũng vậy, thích Phổ Môn phải thuộc Phổ Môn, thích Kim Cang phải thuộc Kim Cang, thích phẩm Phổ Hiền phải thuộc phẩm Phổ Hiền, cho đến thích Pháp Hoa phải thuộc Pháp Hoa. Lúc trước mỗi ngày giữ đều đặn như vậy, riêng kinh Pháp Hoa thì mỗi ngày tụng một biến hoặc hai ngày một biến. Ai làm được như thế thì thâm nhập kinh tạng không khó.
Bạch Sư Ông người bận rộn với nhiều công việc không có thời gian để tụng nhiều thì làm thế nào có thể hiểu kinh được?
Người bận rộn có thể chọn các phần kinh quan trọng để tụng. Tôi đơn cử cách sắp thời gian của tôi trong quá khứ. Năm 1963, tôi phải bận nhiều công việc nên mỗi ngày không có thời gian tụng kinh Pháp Hoa. Ai cũng biết tụng kinh phải tụng luôn nếu không lại quên nên không thể tiếp tục việc tụng kinh Pháp Hoa, mà chỉ giữ lại bài kệ phẩm Phương Tiện làm thời khóa cho đến bây giờ. Bài kệ phẩm Phương Tiện cũng nhiều lắm, gần 500 câu chứ đâu phải ít. Khi có thể thu xếp thời gian thì ta tụng cố định và đều đặn hơn thì mới hiểu kinh thấu đáo được.
Hiện nay, thời khóa mỗi ngày của tôi nhất định phải có là: sáng sớm thức dậy tụng phẩm Phổ Hiền trong kinh Hoa Nghiêm, kinh Kim Cang, bài kệ phẩm Phương Tiện của kinh Pháp Hoa, kinh Phổ Môn, kinh A Di Đà” rồi hoàn kinh niệm Phật. Nếu tụng ra tiếng thì hơn 2 tiếng đồng hồ, nếu tụng thầm thì trên dưới một tiếng rưỡi. Năm nay tôi đã 94 tuổi nên chỉ thực hiện thời khóa bằng cách tụng thầm mà thôi, chứ tụng ra tiếng thì không nỗi nữa rồi. Sở dĩ tôi nói kỹ như vậy để chúng ta biết rõ cách tu tập của mình là phải có sự liên tục hằng ngày. Không nên lúc có, lúc không.
Tụng kinh niệm Phật ngoài mục đích chính yếu là vãng sanh Cực Lạc ra, còn có tác dụng hàng phục những phiền não nghiệp chướng, khiến cho những thiện căn công đức được tăng trưởng. Nếu mỗi ngày tu hành đều đặn như vậy, tất nhiên lần lần bớt đi phần phàm phu sanh tử mà tiến lần trên con đường Hiền Thánh giải thoát.
Bạch Sư Ông khi hiểu kinh rồi thì lộ trình tu bao lâu mới đạt kết quả?
Ngay đức Phật cũng phải trải qua vi trần số kiếp tu tập chứ không phải con số ức muôn mà mình thường tính toán. Phải lấy số vi trần để tính số kiếp tu hành. Rõ ràng như vậy, chính đức Phật nói chứ không ai khác. Như Phẩm Đề Bà Đạt Đa trong kinh Pháp Hoa, ngài Trí Tích Bồ tát nói: “Tôi xem trong cõi Tam thiên Đại thiên nhẫn đến không có chỗ nhỏ bằng hột cải mà không phải là chỗ của Bồ tát (chỉ cho Phật Thích Ca) bỏ thân mạng để vì lợi ích chúng sanh, vậy sau mới thành đạo Bồ đề”. Chứ không phải thường thường như chúng ta, làm được chút ít công đức gì đó mà đòi thành ông Hiền ông Thánh liền đâu. Trong kinh dạy rất đầy đủ, nhất là kinh Đại Bửu Tích nói về công hạnh của các vị Bồ tát rõ ràng lắm. Mọi người nên cố gắng tìm đọc. Tôi bây giờ phải nhờ người khác đọc để biết được công hạnh của các ngài quá khứ tu thế nào, hiện tại thành tựu thế nào.
Nói chung, việc dứt trừ nghiệp chướng phiền não để ra khỏi sanh tử luân hồi không phải là chuyện dễ. Nhưng mình có tu tập đều đặn là mình có bước đi. Mà đã có bước đi là có lúc đến. Có bước một bước là có giải thoát một bước, chứ không phải đợi đến đích rồi mới giải thoát. Thường nghĩ như vậy lại thấy vui. Bởi vì biết mình mỗi ngày có bước là mỗi ngày gần thêm bờ giải thoát. Nên nhớ kỹ là vi trần số kiếp chứ không phải ít đâu. Không phải nghe nói: “Tức tâm tức Phật” rồi cho rằng thấy tâm là thành Phật. Vì nếu như vậy là mình hơn Phật Thích Ca xa lắm rồi.
Theo: DPNN
Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012
Dealing with slander
Dealing with slander in Buddist perspective
In the use of Noble Silence
Thế sự đua nhau nói Dại - Khôn
Biết ai là Dại, biết ai Khôn
Khôn mà như thế là "khôn dại"
Dại được như ri, ấy "dại khôn".
Tiếng thị phi (piece of slander):
Thị: nghĩa là đúng,
Phi: nghĩa là sai.
Vậy tiếng thị phi là dư luận của mọi người chung quanh về một người; đã thành lời đồn, lời phê phán.
Trên bước đường tu học, Phật tử chúng ta (hoặc những ai chưa là Phật tử) sẽ không tránh khỏi những hàm oan. Câu hỏi đặt ra ở đây là: << Vậy bằng cách nào chúng ta có thể vượt qua được những oan khiên đó dưới góc nhìn của một người tu học? >>.
Giải tỏa oan ức
Tất cả chúng ta sống trên cuộc đời này, ai cũng có nỗi lo, nỗi khổ, nhất là cảm giác bị oan ức là nỗi khổ lớn. Oan ức là những điều mình không làm mà bị người khác đổ lỗi, nên mình cảm thấy ức lòng, đau khổ. Muốn giải tỏa nỗi oan ức này, chúng ta làm cách nào ?
Luận Bảo Vương Tam muội dạy rằng oan ức không cần biện minh, vì càng biện minh thì nỗi hàm oan càng lớn. Lời dạy này hơi khó hiểu. Đa số chúng ta tin rằng mình có thể giải tỏa được oan ức; nhưng sự thật càng giải, nỗi hàm oan dường như càng tăng trưởng mà tôi có cảm giác giống như chiếc còng số tám, nếu càng vùng vẫy thì cái còng càng siết chặt lại, thà cứ để yên, chúng ta sẽ thấy nhẹ hơn và làm sao tay chúng ta tự nhỏ lại để rút tay ra khỏi cái còng, hay ngược lại, làm sao cái còng mở ra được. Làm tay mình thu nhỏ lại chắc chắn là rất khó, hoặc làm chiếc còng mở ra được cũng không dễ; nhưng chỉ có hai cách này mà thôi.
Nếu là chiếc còng số tám thật, tra chìa khóa vô thì mở được. Còn chiếc còng oan ức siết tâm mình thì cũng phải tìm chìa khóa mở ra. Nhưng nếu không tìm thấy chìa khóa, phải nhờ các bậc thiện tri thức chỉ cho chúng ta. Thiện tri thức lớn nhất là Phật và các vị Tổ sư đắc đạo, các Ngài đều có chìa khóa mở cửa thoát ra khỏi tam giới.
Vấn đề đặt ra ở đây là giải oan ức, nhưng phải tìm oan ức này ở đâu? Có thể khẳng định rằng nỗi oan ức thật sự do chúng ta tạo nên cho chính mình. Đức Phật đã chỉ thẳng rằng tất cả mọi việc do chúng ta tự tạo ra và sự tạo dựng lớn nhất của chúng ta là tạo ngôi nhà ngũ ấm và tạo ngục tù tam giới, từ đó phát sinh tất cả khổ đau của mọi người trên thế gian này.
Đức Phật đã trao cho chúng ta chiếc chìa khóa là 37 trợ đạo phẩm để mở cánh cửa ngục tù tam giới, mở cánh cửa của Nhà lửa để chúng ta thoát ra. Tất cả các vị thánh La hán và chư Bồ tát đã tìm được chìa khóa và các Ngài đã thoát ra rồi, nhưng vì thương chúng sinh mà các Ngài đã trở lại nhân gian này với dạng hình con người. Chúng ta thấy trên mặt hiện tượng, Bồ tát hay thánh La hán có hàm oan, nhưng thật sự không phải như vậy; vì các Ngài trở lại cuộc đời bằng tâm từ bi và trong tay các Ngài có vô số phương tiện hữu hiệu, đồng thời trong tâm các Ngài cũng có diệu pháp, tức là đại dụng. Bồ tát và La hán là hai bậc Thầy lớn có đủ khả năng giúp chúng ta tháo gỡ những oan ức.
Trên bước đường tu, nếu không nương được Bồ tát và La hán, người ta sẽ ở mãi trong sinh tử, không thoát ra được và oan ức này sẽ chồng lên oan ức khác, cho đến lúc họ phải vào địa ngục Vô gián, vì càng tháo gỡ theo kiểu phàm phu thì chiếc còng oan ức càng siết chặt họ hơn. Thật vậy, thực tế cho thấy lúc bắt đầu, sai lầm của họ không có, hay có rất ít, nghĩa là nỗi oan ức của họ không lớn, nhưng vì không nhìn đúng sự thật của vấn đề, cứ nghĩ họ đúng, họ bị oan ức và nuôi lớn nỗi oan ức đó, nên họ cứ tranh đấu hoài, thì lòng sân hận và hành động sai trái theo đó tăng dần, cho đến lúc họ không chịu nổi, sẽ kết thúc bằng tự tử. Con đường đi vào sinh tử là vậy.
Đức Phật mới mở ra cho loài người con đường giải thoát, thực tập pháp Phật đến đâu thì được giải thoát đến đó, tức đã phát huy được trí tuệ theo Phật. Tất cả các pháp môn Đức Phật dạy đều là chìa khóa mở cánh cửa ra khỏi ngục tù tam giới. Đức Phật đã trao chìa khóa và chúng ta chỉ cần tra chìa khóa vào là bước ra khỏi mọi trói buộc, khổ đau. Phật là vị đại Đạo sư đã chỉ dạy con đường thoát hiểm nạn trầm luân sinh tử, việc đi ra hay không là tùy ở chúng ta.
Đức Phật trao cho chúng ta chìa khóa của kinh Pháp Hoa là tam thừa giáo để ra khỏi sinh tử, ra khỏi Nhà lửa, đến bãi đất trống, nghĩa là tâm chúng ta trống sạch, được giải thoát, tất cả nỗi oan ức trong lòng không còn. Lúc đó chúng ta vẫn còn thân người nhưng là người giải thoát thanh tịnh, không phải chết mới được giải thoát; nhiều khi chết khổ hơn, vì mang thân người mới có điều kiện tốt để làm Tiên, làm Thánh, làm Phật; còn nếu lỡ rớt xuống làm heo, làm gà thì khó tu lên được.
Trong loài người, ta mới được Phật trao cho chìa khóa tam thừa; Ngài nói rằng trong tứ sanh lục đạo, chỉ loài người mới có điều kiện ra khỏi tam giới. Tất cả các loài khác muốn ra khỏi tam giới, phải tái sinh làm người, rồi tu lên, mới làm Tiên, làm Thánh, làm Phật.
Khi phát tâm Bồ đề, thật sự tu theo Phật, nhìn kỹ thấy trên cuộc đời này những nỗi oan ức thường là “oan Thị Mầu”, không phải oan Thị Kính, vì Thị Kính đã lấy được chìa khóa tam thừa mở thoát ra, giải được nỗi oan. Ai cứ thấy mình oan ức là người đó đang tu theo Thị Mầu, hay tu theo Đắc Kỷ đã tu một ngàn năm, nhưng tánh ác hại người bên trong còn nguyên mà miệng cứ kêu oan.
Bước chân vào Phật pháp, an trụ trong yếu lý Phật dạy, thấy được thật tướng các pháp mà Phật nói rằng ở trong tam giới không có sinh tử, nhưng vì vô minh vọng kiến ngăn che, tạo nên các tội sai biệt, rồi cứ kêu oan. Tất cả mọi việc đều do chúng ta tạo, kinh Hoa Nghiêm gọi là nhứt thiết duy tâm tạo. Nếu tâm chúng ta thánh thiện sẽ tạo nên Bích chi Phật, La hán, Bồ tát; nếu tâm chúng ta ác sẽ tạo thành ác ma, cao nhất là ma Ba tuần, dẫn vào thế giới ma.
Chìa khóa Phật trao cho loài người là Ngài trao cho Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát để cứu nhân độ thế. Những vị này đã có chìa khóa, đã tự mở được ngục tù cho họ rồi và cũng mở ngục tù cho mọi người thoát ra. Nếu không nương vào ba hàng đệ tử này để ra khỏi ngục tù của ba cõi, chúng ta sẽ lẩn quẩn mãi trong tam giới và tội cũ sẽ chồng chất thêm tội mới, cứ như vậy phải khổ triền miên, rồi nói tôi tu sao mà khổ vậy.
Chúng ta phải biết cái gì tạo khổ đây. Đức Phật nói do Thức chúng ta tạo. Đa số chúng ta sống theo vọng thức, từ bỏ chơn tâm. Vọng thức là lòng ham muốn, tánh ích kỷ của chúng ta. Chúng ta sống với vọng thức nhiều hơn mới dẫn đến khổ đau. Vì vậy, trên bước đường tu, muốn hết khổ, phải xóa vọng thức. Bồ tát chuyển được vọng thức thành tuệ giác là hiểu biết, nên không bao giờ khổ.
Không biết thì thực không khổ, nhưng cảm thấy khổ. Ví dụ những người xung quanh nói xấu tôi, nhưng tôi không nghe, không biết, nên tôi không khổ. Lỡ có người nghe lời nói xấu, họ kể lại cho tôi rằng ông A nói xấu tôi vậy đó, nghe xong tôi cảm thấy khổ. Nghĩa là do nghe, suy nghĩ, biết, mà cảm thấy mình bị oan ức rồi buồn khổ, thì đó là oan Thị Mầu, tức đã tạo tội rồi mà còn kêu oan.
Người tu xóa oan ức theo Phật dạy bằng cách không nghe, không thấy, không suy nghĩ, thì tạm cắt bỏ được vọng thức ở bước đầu; vì vọng thức này phát xuất từ thấy, nghe, suy nghĩ gọi là nhãn thức, nhĩ thức và ý thức, tạo nên hiểu biết đau khổ.
Ai nói chúng ta không nghe, ai làm chúng ta không thấy, nên tâm chúng ta không suy nghĩ. Đức Phật dạy muốn ra khỏi sinh tử, được giải thoát, phải cách ly thế sự. Vì vậy, người tu thường ở trong phòng đóng cửa lại, hoặc ở trong hang đá, ở núi rừng vắng vẻ, không liên hệ với cuộc đời, để khóa cánh cửa địa ngục, mở cánh cửa Niết bàn. Nói cách khác, cánh cửa trần gian đóng lại, mở Phật pháp bên trong là tu hướng nội khác với hướng ngoại thì nghe biết đủ thứ chuyện trên cuộc đời, nên biết nhiều khổ nhiều, không biết không khổ. Thậm chí một chút nữa trời sập, nhưng mình không biết thì vẫn tỉnh như không, còn biết trời sắp sập, dù chưa sập nhưng trong lòng cứ cảm thấy lo sợ, phải tự khổ thôi.
Trong khóa tu này, các Phật tử tập tu bằng cách không biết việc của thiên hạ, vì biết như vậy sẽ làm bẩn tâm mình, tự khổ thêm. Càng biết nhiều việc của cuộc đời, chắc chắn nỗi khổ sẽ lên đến cùng tột. Người tu không dại gì đem khổ của thiên hạ vô tâm mình để khổ. Chúng ta thấy Đức Khổng Tử chỉ có ý thức muốn bình thiên hạ mà cả cuộc đời của ông luôn lận đận lao đao. Làm sao bình được thiên hạ, việc này không thể được, nhưng ông cứ muốn như vậy mà tự khổ; tức hiểu biết đã làm ông khổ. Hạng Thác là người chăn trâu hỏi Khổng Tử trả lời được ba câu thì mới xứng đáng là Vạn Thế Sư Biểu, tức làm Thầy muôn đời. Khổng Tử đáp rằng một trăm câu cũng trả lời được, chẳng lẽ không trả lời nổi ba câu của kẻ mục đồng. Hạng Thác hỏi trên trời có bao nhiêu vì sao. Khổng Tử bảo nói chuyện trên trời làm sao biết được, hãy nói chuyện trên mặt đất. Nhưng ông cũng không trả lời được câu hỏi thứ hai là trên trái đất này có bao nhiêu người. Ông tức mình bảo phải nói chuyện trước mắt, đừng nói chuyện bao la. Vậy thì câu hỏi thứ ba là cho biết cặp chân mày của ông có bao nhiêu sợi lông. Dĩ nhiên là ông đành chịu thua. Câu chuyện này nhằm nói rằng hiểu biết của con người có giới hạn, nhưng muốn làm chuyện quá lớn lao rồi tự khổ. Nếu Đức Khổng Tử từ bỏ ý nghĩ muốn bình thiên hạ, chắc chắn ông vẫn sống ung dung tự tại, vì với trí khôn ngoan hiểu biết ông cũng giúp được cho cuộc đời nhiều lắm chứ.
Trước tiên, Đức Phật trao chiếc chìa khóa thứ nhất cho hàng nhân thiên thoát ra khỏi khổ đau. Con người muốn hết khổ, không còn oan ức nữa, Phật khuyên chúng ta chỉ cần giữ năm giới cho tốt. Nếu đã giữ năm giới tốt, nhưng còn bị oan ức là do túc nghiệp của chúng ta, tức là nghiệp của đời trước. Nhìn cuộc sống chúng ta hiện tại mà biết được túc nghiệp mình. Nếu sanh trong gia đình cờ bạc, hút xách, chắc chắn chúng ta phải mang tất cả nghiệp của dòng họ mình. Chúng ta có nghiệp này mới sanh vô gia đình như vậy. Nếu sanh trong vùng chiến tranh hay ở vùng biên giới không có văn minh, tự biết nghiệp của mình đời trước không tốt. Sanh ra trong gia đình nghèo đói, thân thể ốm o, rách rưới mà đến nhà sang giàu thì dễ bị hàm oan. Tôi xuất thân từ giai cấp nông dân nghèo khổ, nên nhận ra điều này rất rõ và vâng lời Phật dạy, tôi giải được nghiệp này. Nghèo nàn thì ta không nên đến chỗ sang trọng, vì dễ bị đổ oan rằng mình ăn cắp, bị đánh, bị tù tội, bị giết chết. Nghiệp nghèo khổ đời trước đã có, đời này không muốn bị oan ức, tốt nhất là tránh những nơi giàu có. Ý này trong kinh Pháp Hoa, Ca Diếp đại diện cho các trưởng lão thưa với Đức Phật rằng người cùng tử không dám vào nhà sang trọng của ông trưởng giả, mà phải tới xóm nghèo làm thuê mướn, sau đó mới được vào ở am tranh hốt dọn phân nhơ. Nghĩa là chúng ta đến được Phật pháp, phải chấp nhận thực tế cuộc sống của mình, phải sống đúng thân phận và hoàn cảnh tương ưng với mình thì người ta mới để cho mình yên thân mà tu.
Riêng bản thân tôi, trong khoảng thời gian từ 10 tuổi cho đến 30 tuổi, trong suốt 20 năm, tôi không có một vật nào có giá trị để không bị oan ức; vì có ai mất đồ, thấy tôi sống đơn giản, chắc chắn họ không nghi tôi ăn trộm. Chỗ ở và thức ăn của mình đạm bạc tới mức tối đa, thì ai nghĩ mình ăn cắp.
Tu hành chúng ta phải nhận ra túc nghiệp của mình để hóa giải. Oan ức do nghiệp đời trước mang vô thân đời này rồi, chúng ta phải tìm cách xóa sạch. Nghiệp nghèo đói do gian tham trộm cắp, nghiệp bệnh hoạn do sát sanh hại mạng, nghiệp tà dâm nên thân thể xấu xí hôi dơ; nghĩa là phải kiện toàn thân tâm mình trở thành thanh tịnh thật sự.
Chìa khóa ngũ giới mà Đức Phật đưa cho chúng ta, để thực tập đời sống phạm hạnh, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói bịa đặt, không uống rượu. Thực tập được năm điều tốt đẹp căn bản này, tất cả hàm oan sẽ không đến với chúng ta nữa, hoặc thực tập đến đâu sẽ giải thoát đến đó. Còn tham vọng lớn, đòi hỏi nhiều, tiêu xài phung phí, nợ chồng chất thì phải khổ thêm, không thể khác. Trên bước đường tu theo Phật, hãy sống với những gì mình có, hay sống dưới mức mình có càng tốt; nói cách khác, làm nhiều hưởng ít, mới tích lũy được công đức, chắc chắn cuộc sống an lành giải thoát ngay, không đợi kiếp sau.
Muốn đời sống chúng ta được nâng cao hơn, Đức Phật trao chiếc chìa khóa thứ hai là thập thiện. Tu thập thiện nghiệp, tức làm mười điều lành sẽ được người kính trọng. Thập thiện nghiệp là mười giới gồm có ba giới của thân (không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm), bốn giới của miệng (không nói lời bịa đặt, không nói lời hung ác, không nói lời đâm thọc, không nói lời gây chia rẽ) và ba giới của ý (tham, sân, si). Thực hiện mười nghiệp thiện sẽ được lên cõi Trời là cảnh giới sống được tốt đẹp hơn cõi người.
Ví dụ đối với việc thiện của thân, chẳng những chúng ta không sát sanh mà còn có lòng từ hộ mạng chúng sinh. Vì có hộ mạng tức cứu giúp người hoặc loài vật, mình sẽ được họ thương kính, quý trọng, nghĩa là tư cách của mình được nâng cao gọi là chư Thiên. Đọc truyện Tây du ky, có ông Trần Quang Nhị đã cứu con cá vàng thoát chết. Khi ông bị người ác xô xuống sông, vì đời trước ông đã giết người này; nhưng nhờ ông đã cứu con cá vàng nên nó nhớ ơn, hiện ra cứu ông. Mình có bố thí, giúp đỡ, người mang ơn, lỡ mình sa cơ thất thế, họ sẽ giúp lại mình.
Như vậy, Đức Phật đã trao cho loài người hai chìa khóa, một chìa khóa thập thiện nghiệp để mở cửa thiên đường và một chìa khóa ngũ giới để được tái sinh làm người không còn bị hàm oan. Còn tạo nghiệp ác kiếp trước, thì sanh lại đời này thường bị hàm oan và từ đó lại tạo thêm nhiều nghiệp để phải chịu oan nữa.
Tuy hai chìa khóa này giúp chúng ta thoát những nỗi khổ đau và oan ức, nhưng chỉ là giải quyết tạm thời trên cuộc đời này, vì khi hết oan ức và hưởng hết phước, lại tạo tội, rồi rớt xuống khổ đau thì gặp oan ức nữa. Cứ như vậy mà chúng ta lẩn quẩn từ kiếp này sang kiếp khác trong tứ sanh lục đạo.
Đức Phật vì tâm đại bi muốn cho chúng ta ra khỏi sinh tử luân hồi, Ngài mới trao thêm ba chìa khóa khác mà kinh Pháp Hoa gọi là ba xe, xe dê, xe nai, xe trâu, phải dùng ba xe này mới ra ngoài sinh tử và thành tựu quả vị Phật được. Đức Phật cho ba hạng người là La hán, Bích chi Phật và Bồ tát sử dụng ba xe này, tức tam thừa giáo; còn các pháp tu khác dành cho nhân thiên.
Muốn tu ba pháp Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa để ra khỏi sinh tử, Đức Phật dạy chúng ta phải hạ thủ công phu miên mật, không phải bình thường. Đầu tiên tu Thanh văn thừa để đắc La hán, đó là pháp mà con người dễ thực tập nhất, gần nhất và nhanh nhất. Quả La hán có bốn cấp bậc: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm và A la hán. Bốn cấp bậc này chúng ta tưởng khó, nhưng không khó lắm, vì đó là thế giới của nội tâm, tức chỉ tu tâm. Vì tu tâm, nên chúng ta thấy các vị La hán chỉ ngồi yên, không làm gì, nhưng họ đang quán sát sự vận hành của tâm và điều động được tâm, nên quả chứng của họ rất lớn, chẳng những giải sạch tất cả oan trái trên cuộc đời này, mà họ còn vĩnh viễn ra khỏi tam giới. Trong khi hàng nhân thiên giải được hàm oan này lại rơi vào hàm oan khác, tạo phước cũng trầy trật lắm, nhưng có phước rồi, được sống sung sướng ở cõi trời, hưởng một lúc phá sản, lại rớt xuống, có thể rớt thẳng xuống ba đường ác, còn may mắn thì tái sinh cõi nhân gian, lại bị khổ đau hàm oan nữa.
Tóm lại, năm chìa khóa mà Đức Phật đã trao cho chúng ta để mở các cánh cửa đi vào những cảnh giới tốt đẹp, từ cõi người đến cõi Trời, cho đến những cảnh giới của hàng tứ Thánh là Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật. Chúng ta nhờ có căn lành sâu dày mới được làm đệ tử Phật, được tu học trong giáo pháp của Ngài, cầu mong rằng tất cả mọi người nỗ lực tinh tấn tu hành, tùy theo tâm lực, đạo lực, huệ lực mà từng bước trong cuộc sống này và muôn kiếp về sau, chúng ta thường ra vào tự tại những cảnh giới tốt đẹp trong mười phương Pháp giới để thành tựu viên mãn phước đức trí tuệ của Bồ tát hạnh, đạt được quả vị Vô thượng Chánh đẳng - Chánh giác.
HT Thích Trí Quảng
Meister Eckhart
<< The most profound statements are often said in silence >>.
Lynn Johnston
In the use of Noble Silence
Thế sự đua nhau nói Dại - Khôn
Biết ai là Dại, biết ai Khôn
Khôn mà như thế là "khôn dại"
Dại được như ri, ấy "dại khôn".
Tiếng thị phi (piece of slander):
Thị: nghĩa là đúng,
Phi: nghĩa là sai.
Vậy tiếng thị phi là dư luận của mọi người chung quanh về một người; đã thành lời đồn, lời phê phán.
Trên bước đường tu học, Phật tử chúng ta (hoặc những ai chưa là Phật tử) sẽ không tránh khỏi những hàm oan. Câu hỏi đặt ra ở đây là: << Vậy bằng cách nào chúng ta có thể vượt qua được những oan khiên đó dưới góc nhìn của một người tu học? >>.
Giải tỏa oan ức
Tất cả chúng ta sống trên cuộc đời này, ai cũng có nỗi lo, nỗi khổ, nhất là cảm giác bị oan ức là nỗi khổ lớn. Oan ức là những điều mình không làm mà bị người khác đổ lỗi, nên mình cảm thấy ức lòng, đau khổ. Muốn giải tỏa nỗi oan ức này, chúng ta làm cách nào ?
Luận Bảo Vương Tam muội dạy rằng oan ức không cần biện minh, vì càng biện minh thì nỗi hàm oan càng lớn. Lời dạy này hơi khó hiểu. Đa số chúng ta tin rằng mình có thể giải tỏa được oan ức; nhưng sự thật càng giải, nỗi hàm oan dường như càng tăng trưởng mà tôi có cảm giác giống như chiếc còng số tám, nếu càng vùng vẫy thì cái còng càng siết chặt lại, thà cứ để yên, chúng ta sẽ thấy nhẹ hơn và làm sao tay chúng ta tự nhỏ lại để rút tay ra khỏi cái còng, hay ngược lại, làm sao cái còng mở ra được. Làm tay mình thu nhỏ lại chắc chắn là rất khó, hoặc làm chiếc còng mở ra được cũng không dễ; nhưng chỉ có hai cách này mà thôi.
Nếu là chiếc còng số tám thật, tra chìa khóa vô thì mở được. Còn chiếc còng oan ức siết tâm mình thì cũng phải tìm chìa khóa mở ra. Nhưng nếu không tìm thấy chìa khóa, phải nhờ các bậc thiện tri thức chỉ cho chúng ta. Thiện tri thức lớn nhất là Phật và các vị Tổ sư đắc đạo, các Ngài đều có chìa khóa mở cửa thoát ra khỏi tam giới.
Vấn đề đặt ra ở đây là giải oan ức, nhưng phải tìm oan ức này ở đâu? Có thể khẳng định rằng nỗi oan ức thật sự do chúng ta tạo nên cho chính mình. Đức Phật đã chỉ thẳng rằng tất cả mọi việc do chúng ta tự tạo ra và sự tạo dựng lớn nhất của chúng ta là tạo ngôi nhà ngũ ấm và tạo ngục tù tam giới, từ đó phát sinh tất cả khổ đau của mọi người trên thế gian này.
Đức Phật đã trao cho chúng ta chiếc chìa khóa là 37 trợ đạo phẩm để mở cánh cửa ngục tù tam giới, mở cánh cửa của Nhà lửa để chúng ta thoát ra. Tất cả các vị thánh La hán và chư Bồ tát đã tìm được chìa khóa và các Ngài đã thoát ra rồi, nhưng vì thương chúng sinh mà các Ngài đã trở lại nhân gian này với dạng hình con người. Chúng ta thấy trên mặt hiện tượng, Bồ tát hay thánh La hán có hàm oan, nhưng thật sự không phải như vậy; vì các Ngài trở lại cuộc đời bằng tâm từ bi và trong tay các Ngài có vô số phương tiện hữu hiệu, đồng thời trong tâm các Ngài cũng có diệu pháp, tức là đại dụng. Bồ tát và La hán là hai bậc Thầy lớn có đủ khả năng giúp chúng ta tháo gỡ những oan ức.
Trên bước đường tu, nếu không nương được Bồ tát và La hán, người ta sẽ ở mãi trong sinh tử, không thoát ra được và oan ức này sẽ chồng lên oan ức khác, cho đến lúc họ phải vào địa ngục Vô gián, vì càng tháo gỡ theo kiểu phàm phu thì chiếc còng oan ức càng siết chặt họ hơn. Thật vậy, thực tế cho thấy lúc bắt đầu, sai lầm của họ không có, hay có rất ít, nghĩa là nỗi oan ức của họ không lớn, nhưng vì không nhìn đúng sự thật của vấn đề, cứ nghĩ họ đúng, họ bị oan ức và nuôi lớn nỗi oan ức đó, nên họ cứ tranh đấu hoài, thì lòng sân hận và hành động sai trái theo đó tăng dần, cho đến lúc họ không chịu nổi, sẽ kết thúc bằng tự tử. Con đường đi vào sinh tử là vậy.
Đức Phật mới mở ra cho loài người con đường giải thoát, thực tập pháp Phật đến đâu thì được giải thoát đến đó, tức đã phát huy được trí tuệ theo Phật. Tất cả các pháp môn Đức Phật dạy đều là chìa khóa mở cánh cửa ra khỏi ngục tù tam giới. Đức Phật đã trao chìa khóa và chúng ta chỉ cần tra chìa khóa vào là bước ra khỏi mọi trói buộc, khổ đau. Phật là vị đại Đạo sư đã chỉ dạy con đường thoát hiểm nạn trầm luân sinh tử, việc đi ra hay không là tùy ở chúng ta.
Đức Phật trao cho chúng ta chìa khóa của kinh Pháp Hoa là tam thừa giáo để ra khỏi sinh tử, ra khỏi Nhà lửa, đến bãi đất trống, nghĩa là tâm chúng ta trống sạch, được giải thoát, tất cả nỗi oan ức trong lòng không còn. Lúc đó chúng ta vẫn còn thân người nhưng là người giải thoát thanh tịnh, không phải chết mới được giải thoát; nhiều khi chết khổ hơn, vì mang thân người mới có điều kiện tốt để làm Tiên, làm Thánh, làm Phật; còn nếu lỡ rớt xuống làm heo, làm gà thì khó tu lên được.
Trong loài người, ta mới được Phật trao cho chìa khóa tam thừa; Ngài nói rằng trong tứ sanh lục đạo, chỉ loài người mới có điều kiện ra khỏi tam giới. Tất cả các loài khác muốn ra khỏi tam giới, phải tái sinh làm người, rồi tu lên, mới làm Tiên, làm Thánh, làm Phật.
Khi phát tâm Bồ đề, thật sự tu theo Phật, nhìn kỹ thấy trên cuộc đời này những nỗi oan ức thường là “oan Thị Mầu”, không phải oan Thị Kính, vì Thị Kính đã lấy được chìa khóa tam thừa mở thoát ra, giải được nỗi oan. Ai cứ thấy mình oan ức là người đó đang tu theo Thị Mầu, hay tu theo Đắc Kỷ đã tu một ngàn năm, nhưng tánh ác hại người bên trong còn nguyên mà miệng cứ kêu oan.
Bước chân vào Phật pháp, an trụ trong yếu lý Phật dạy, thấy được thật tướng các pháp mà Phật nói rằng ở trong tam giới không có sinh tử, nhưng vì vô minh vọng kiến ngăn che, tạo nên các tội sai biệt, rồi cứ kêu oan. Tất cả mọi việc đều do chúng ta tạo, kinh Hoa Nghiêm gọi là nhứt thiết duy tâm tạo. Nếu tâm chúng ta thánh thiện sẽ tạo nên Bích chi Phật, La hán, Bồ tát; nếu tâm chúng ta ác sẽ tạo thành ác ma, cao nhất là ma Ba tuần, dẫn vào thế giới ma.
Chìa khóa Phật trao cho loài người là Ngài trao cho Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát để cứu nhân độ thế. Những vị này đã có chìa khóa, đã tự mở được ngục tù cho họ rồi và cũng mở ngục tù cho mọi người thoát ra. Nếu không nương vào ba hàng đệ tử này để ra khỏi ngục tù của ba cõi, chúng ta sẽ lẩn quẩn mãi trong tam giới và tội cũ sẽ chồng chất thêm tội mới, cứ như vậy phải khổ triền miên, rồi nói tôi tu sao mà khổ vậy.
Chúng ta phải biết cái gì tạo khổ đây. Đức Phật nói do Thức chúng ta tạo. Đa số chúng ta sống theo vọng thức, từ bỏ chơn tâm. Vọng thức là lòng ham muốn, tánh ích kỷ của chúng ta. Chúng ta sống với vọng thức nhiều hơn mới dẫn đến khổ đau. Vì vậy, trên bước đường tu, muốn hết khổ, phải xóa vọng thức. Bồ tát chuyển được vọng thức thành tuệ giác là hiểu biết, nên không bao giờ khổ.
Không biết thì thực không khổ, nhưng cảm thấy khổ. Ví dụ những người xung quanh nói xấu tôi, nhưng tôi không nghe, không biết, nên tôi không khổ. Lỡ có người nghe lời nói xấu, họ kể lại cho tôi rằng ông A nói xấu tôi vậy đó, nghe xong tôi cảm thấy khổ. Nghĩa là do nghe, suy nghĩ, biết, mà cảm thấy mình bị oan ức rồi buồn khổ, thì đó là oan Thị Mầu, tức đã tạo tội rồi mà còn kêu oan.
Người tu xóa oan ức theo Phật dạy bằng cách không nghe, không thấy, không suy nghĩ, thì tạm cắt bỏ được vọng thức ở bước đầu; vì vọng thức này phát xuất từ thấy, nghe, suy nghĩ gọi là nhãn thức, nhĩ thức và ý thức, tạo nên hiểu biết đau khổ.
Ai nói chúng ta không nghe, ai làm chúng ta không thấy, nên tâm chúng ta không suy nghĩ. Đức Phật dạy muốn ra khỏi sinh tử, được giải thoát, phải cách ly thế sự. Vì vậy, người tu thường ở trong phòng đóng cửa lại, hoặc ở trong hang đá, ở núi rừng vắng vẻ, không liên hệ với cuộc đời, để khóa cánh cửa địa ngục, mở cánh cửa Niết bàn. Nói cách khác, cánh cửa trần gian đóng lại, mở Phật pháp bên trong là tu hướng nội khác với hướng ngoại thì nghe biết đủ thứ chuyện trên cuộc đời, nên biết nhiều khổ nhiều, không biết không khổ. Thậm chí một chút nữa trời sập, nhưng mình không biết thì vẫn tỉnh như không, còn biết trời sắp sập, dù chưa sập nhưng trong lòng cứ cảm thấy lo sợ, phải tự khổ thôi.
Trong khóa tu này, các Phật tử tập tu bằng cách không biết việc của thiên hạ, vì biết như vậy sẽ làm bẩn tâm mình, tự khổ thêm. Càng biết nhiều việc của cuộc đời, chắc chắn nỗi khổ sẽ lên đến cùng tột. Người tu không dại gì đem khổ của thiên hạ vô tâm mình để khổ. Chúng ta thấy Đức Khổng Tử chỉ có ý thức muốn bình thiên hạ mà cả cuộc đời của ông luôn lận đận lao đao. Làm sao bình được thiên hạ, việc này không thể được, nhưng ông cứ muốn như vậy mà tự khổ; tức hiểu biết đã làm ông khổ. Hạng Thác là người chăn trâu hỏi Khổng Tử trả lời được ba câu thì mới xứng đáng là Vạn Thế Sư Biểu, tức làm Thầy muôn đời. Khổng Tử đáp rằng một trăm câu cũng trả lời được, chẳng lẽ không trả lời nổi ba câu của kẻ mục đồng. Hạng Thác hỏi trên trời có bao nhiêu vì sao. Khổng Tử bảo nói chuyện trên trời làm sao biết được, hãy nói chuyện trên mặt đất. Nhưng ông cũng không trả lời được câu hỏi thứ hai là trên trái đất này có bao nhiêu người. Ông tức mình bảo phải nói chuyện trước mắt, đừng nói chuyện bao la. Vậy thì câu hỏi thứ ba là cho biết cặp chân mày của ông có bao nhiêu sợi lông. Dĩ nhiên là ông đành chịu thua. Câu chuyện này nhằm nói rằng hiểu biết của con người có giới hạn, nhưng muốn làm chuyện quá lớn lao rồi tự khổ. Nếu Đức Khổng Tử từ bỏ ý nghĩ muốn bình thiên hạ, chắc chắn ông vẫn sống ung dung tự tại, vì với trí khôn ngoan hiểu biết ông cũng giúp được cho cuộc đời nhiều lắm chứ.
Trước tiên, Đức Phật trao chiếc chìa khóa thứ nhất cho hàng nhân thiên thoát ra khỏi khổ đau. Con người muốn hết khổ, không còn oan ức nữa, Phật khuyên chúng ta chỉ cần giữ năm giới cho tốt. Nếu đã giữ năm giới tốt, nhưng còn bị oan ức là do túc nghiệp của chúng ta, tức là nghiệp của đời trước. Nhìn cuộc sống chúng ta hiện tại mà biết được túc nghiệp mình. Nếu sanh trong gia đình cờ bạc, hút xách, chắc chắn chúng ta phải mang tất cả nghiệp của dòng họ mình. Chúng ta có nghiệp này mới sanh vô gia đình như vậy. Nếu sanh trong vùng chiến tranh hay ở vùng biên giới không có văn minh, tự biết nghiệp của mình đời trước không tốt. Sanh ra trong gia đình nghèo đói, thân thể ốm o, rách rưới mà đến nhà sang giàu thì dễ bị hàm oan. Tôi xuất thân từ giai cấp nông dân nghèo khổ, nên nhận ra điều này rất rõ và vâng lời Phật dạy, tôi giải được nghiệp này. Nghèo nàn thì ta không nên đến chỗ sang trọng, vì dễ bị đổ oan rằng mình ăn cắp, bị đánh, bị tù tội, bị giết chết. Nghiệp nghèo khổ đời trước đã có, đời này không muốn bị oan ức, tốt nhất là tránh những nơi giàu có. Ý này trong kinh Pháp Hoa, Ca Diếp đại diện cho các trưởng lão thưa với Đức Phật rằng người cùng tử không dám vào nhà sang trọng của ông trưởng giả, mà phải tới xóm nghèo làm thuê mướn, sau đó mới được vào ở am tranh hốt dọn phân nhơ. Nghĩa là chúng ta đến được Phật pháp, phải chấp nhận thực tế cuộc sống của mình, phải sống đúng thân phận và hoàn cảnh tương ưng với mình thì người ta mới để cho mình yên thân mà tu.
Riêng bản thân tôi, trong khoảng thời gian từ 10 tuổi cho đến 30 tuổi, trong suốt 20 năm, tôi không có một vật nào có giá trị để không bị oan ức; vì có ai mất đồ, thấy tôi sống đơn giản, chắc chắn họ không nghi tôi ăn trộm. Chỗ ở và thức ăn của mình đạm bạc tới mức tối đa, thì ai nghĩ mình ăn cắp.
Tu hành chúng ta phải nhận ra túc nghiệp của mình để hóa giải. Oan ức do nghiệp đời trước mang vô thân đời này rồi, chúng ta phải tìm cách xóa sạch. Nghiệp nghèo đói do gian tham trộm cắp, nghiệp bệnh hoạn do sát sanh hại mạng, nghiệp tà dâm nên thân thể xấu xí hôi dơ; nghĩa là phải kiện toàn thân tâm mình trở thành thanh tịnh thật sự.
Chìa khóa ngũ giới mà Đức Phật đưa cho chúng ta, để thực tập đời sống phạm hạnh, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói bịa đặt, không uống rượu. Thực tập được năm điều tốt đẹp căn bản này, tất cả hàm oan sẽ không đến với chúng ta nữa, hoặc thực tập đến đâu sẽ giải thoát đến đó. Còn tham vọng lớn, đòi hỏi nhiều, tiêu xài phung phí, nợ chồng chất thì phải khổ thêm, không thể khác. Trên bước đường tu theo Phật, hãy sống với những gì mình có, hay sống dưới mức mình có càng tốt; nói cách khác, làm nhiều hưởng ít, mới tích lũy được công đức, chắc chắn cuộc sống an lành giải thoát ngay, không đợi kiếp sau.
Muốn đời sống chúng ta được nâng cao hơn, Đức Phật trao chiếc chìa khóa thứ hai là thập thiện. Tu thập thiện nghiệp, tức làm mười điều lành sẽ được người kính trọng. Thập thiện nghiệp là mười giới gồm có ba giới của thân (không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm), bốn giới của miệng (không nói lời bịa đặt, không nói lời hung ác, không nói lời đâm thọc, không nói lời gây chia rẽ) và ba giới của ý (tham, sân, si). Thực hiện mười nghiệp thiện sẽ được lên cõi Trời là cảnh giới sống được tốt đẹp hơn cõi người.
Ví dụ đối với việc thiện của thân, chẳng những chúng ta không sát sanh mà còn có lòng từ hộ mạng chúng sinh. Vì có hộ mạng tức cứu giúp người hoặc loài vật, mình sẽ được họ thương kính, quý trọng, nghĩa là tư cách của mình được nâng cao gọi là chư Thiên. Đọc truyện Tây du ky, có ông Trần Quang Nhị đã cứu con cá vàng thoát chết. Khi ông bị người ác xô xuống sông, vì đời trước ông đã giết người này; nhưng nhờ ông đã cứu con cá vàng nên nó nhớ ơn, hiện ra cứu ông. Mình có bố thí, giúp đỡ, người mang ơn, lỡ mình sa cơ thất thế, họ sẽ giúp lại mình.
Như vậy, Đức Phật đã trao cho loài người hai chìa khóa, một chìa khóa thập thiện nghiệp để mở cửa thiên đường và một chìa khóa ngũ giới để được tái sinh làm người không còn bị hàm oan. Còn tạo nghiệp ác kiếp trước, thì sanh lại đời này thường bị hàm oan và từ đó lại tạo thêm nhiều nghiệp để phải chịu oan nữa.
Tuy hai chìa khóa này giúp chúng ta thoát những nỗi khổ đau và oan ức, nhưng chỉ là giải quyết tạm thời trên cuộc đời này, vì khi hết oan ức và hưởng hết phước, lại tạo tội, rồi rớt xuống khổ đau thì gặp oan ức nữa. Cứ như vậy mà chúng ta lẩn quẩn từ kiếp này sang kiếp khác trong tứ sanh lục đạo.
Đức Phật vì tâm đại bi muốn cho chúng ta ra khỏi sinh tử luân hồi, Ngài mới trao thêm ba chìa khóa khác mà kinh Pháp Hoa gọi là ba xe, xe dê, xe nai, xe trâu, phải dùng ba xe này mới ra ngoài sinh tử và thành tựu quả vị Phật được. Đức Phật cho ba hạng người là La hán, Bích chi Phật và Bồ tát sử dụng ba xe này, tức tam thừa giáo; còn các pháp tu khác dành cho nhân thiên.
Muốn tu ba pháp Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa để ra khỏi sinh tử, Đức Phật dạy chúng ta phải hạ thủ công phu miên mật, không phải bình thường. Đầu tiên tu Thanh văn thừa để đắc La hán, đó là pháp mà con người dễ thực tập nhất, gần nhất và nhanh nhất. Quả La hán có bốn cấp bậc: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm và A la hán. Bốn cấp bậc này chúng ta tưởng khó, nhưng không khó lắm, vì đó là thế giới của nội tâm, tức chỉ tu tâm. Vì tu tâm, nên chúng ta thấy các vị La hán chỉ ngồi yên, không làm gì, nhưng họ đang quán sát sự vận hành của tâm và điều động được tâm, nên quả chứng của họ rất lớn, chẳng những giải sạch tất cả oan trái trên cuộc đời này, mà họ còn vĩnh viễn ra khỏi tam giới. Trong khi hàng nhân thiên giải được hàm oan này lại rơi vào hàm oan khác, tạo phước cũng trầy trật lắm, nhưng có phước rồi, được sống sung sướng ở cõi trời, hưởng một lúc phá sản, lại rớt xuống, có thể rớt thẳng xuống ba đường ác, còn may mắn thì tái sinh cõi nhân gian, lại bị khổ đau hàm oan nữa.
Tóm lại, năm chìa khóa mà Đức Phật đã trao cho chúng ta để mở các cánh cửa đi vào những cảnh giới tốt đẹp, từ cõi người đến cõi Trời, cho đến những cảnh giới của hàng tứ Thánh là Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật. Chúng ta nhờ có căn lành sâu dày mới được làm đệ tử Phật, được tu học trong giáo pháp của Ngài, cầu mong rằng tất cả mọi người nỗ lực tinh tấn tu hành, tùy theo tâm lực, đạo lực, huệ lực mà từng bước trong cuộc sống này và muôn kiếp về sau, chúng ta thường ra vào tự tại những cảnh giới tốt đẹp trong mười phương Pháp giới để thành tựu viên mãn phước đức trí tuệ của Bồ tát hạnh, đạt được quả vị Vô thượng Chánh đẳng - Chánh giác.
HT Thích Trí Quảng
Chúng sinh có hai đại loại:
1. Hữu
tình: Những động vật có tình thức, cảm giác.
2. Vô
tình: gồm thực và khoáng vật.
Con người là một trong hàng vạn vạn loại hữu tình chúng sinh.
Một cách tổng quát, con người là sự kết hợp mầu nhiệm, nhịp nhàng
giữa 2 phần: Vật chất và tinh thần, tức Ngũ uẩn theo danh từ Phật giáo. Trong ấy,
sắc thuộc vật chất, thọ, tưởng,hành và thức thuộc tinh thần.
Nếu dùng nhãn quang khoa học để phân tích thân thể con người thì
chúng ta sẽ thấy gồm các chất tố sau đây:
Nước chiếm 75%, còn lại 25% bao gồm:
1. Khoảng
2 lượng muối
2. Một
ly nhỏ đường
3. Chất
mỡ có thể làm được 6 miếng xà phòng thông thường
4. Chất
lân (phosphor) có thể làm 20 que diêm
5. Chất
sắt có thể làm thành một cây đinh nho nhỏ
6. Chất
thạch khôi (lime: đá vôi) có thể dùng để tiêu độc cho 1 cái lồng nhốt gà nhỏ
7. Chất
lưu huỳnh, giết được rận (bọ chét) cho một con chó
8. Chất
đạm khí (Nitrogen) chỉ đủ làm thuốc súng cho 1 phát súng bắn chim
Qua phân tích trên chúng ta thấy con người quả thật giả tạm, vô
nghĩa.
Đức Phật còn đi xa hơn, không những với loài hữu tình chúng sinh
mà cả với thế gian (Sa Bà thế giới), với quả đất này Ngài đều bảo rằng:
“Như bọt nước trôi sông, như lầu sò, chợ biển, nếu xem đời bằng cặp
mắt ấy thì thần chết không đến được.” (Kinh Pháp Cú, Phẩm Thế Gian, câu 170 )
Từ xưa đến nay, từ
đông sang tây hễ là người thì ai cũng muốn an vui, hạnh phúc, tham sống sợ chết,
nhưng sao khắp đó đây loài người vẫn mãi khổ đau, chết chóc một cách oan uổng,
tức tưởi!?
Khổ đau chết chóc vì thiên tai (bão lụt, động đất…) là điều tự
nhiên ( không kể 2 trận lụt vào tháng 11 và 12-1999 tại miền Trung Việt Nam)
nên nỗi đau ấy không mang tính tủi nhục, đắng cay như sự khổ đau do con người
gây ra cho chính loài người. Vì, khác với THIÊN TAI, NHÂN HỌA ẩn tàng các độc
tính: tàn nhẫn, man rợ, đê tiện, ích kỷ, gian tham, bẩn thỉu, đố kỵ, giả dối
lưu manh, tiểu nhân, thú vật, phản bội vong ân, ám muội, nhỏ nhen, hỗn xược,
kiêu căng, phách lối, ngu muội hận thù.v..v…
Nhưng các độc tố trên từ đâu mà có? Nói khác đi, cái gì là nguồn gốc
phát sinh ra chúng?
Xin thưa, thỉ tổ chúng là “Ông thị và Bà phi”.
Nói ông bà kỳ thực chúng như nước với lửa, bóng tối với ánh
sáng…Vì, THỊ là điều phải, lẽ phải, còn PHI là sai trái. Nội dung bài này sẽ
bàn về chữ Thị, Phi theo nhãn quang người viết.
Trước khi đi sâu vào vấn đề, chúng tôi tạm đưa ra một công thức (đồ
biểu) mô tả về tiến trình của Thị Phi.
Mê mờ- Tham lam- Thù hận- Hãm Hại- Chiến Tranh
Ước gì mọi người có cùng một trình độ, một lập trường, một hướng
nhìn, một tâm tình như nhau khi đứng trước một vấn đề. Ước gì mọi người đều chịu
khó bỏ cặp kiếng màu xuống thì mọi việc đều êm đẹp hết. Nhưng trước sau điều đó
chỉ là một ước mơ, một “bạch nhật mộng”! Vì thế, trên khắp mặt địa cầu giặc
giã, chém giết triền miên cơ hồ như không bao giờ ngừng nghỉ.
Đã là người, chúng ta không thể không phân biệt PHẢI (thị) TRÁI
(phi), nghĩa là chúng ta không thể sống kiểu hoạt đầu, ba phải. Nhưng thế nào
là phải và trái theo nghĩa tương đối trong cuộc đời này?
Dĩ nhiên không nhất định vì có nhiều người theo mà gọi là THỊ. Thị
là việc gì, điều gì đem lại an vui, hạnh phúc cho mọi người, mọi loài ở hiện tại
và cả tương lai nữa, ngược lại là Phi.
Song khốn nỗi trong đời này, ít ai thấu hiểu được cái nghĩa thị
phi, do đó, thay vì bênh vực cái thị, bài trừ điều phi để đem lại công bằng, trật
tự cho xã hội thì trái lại, người ta ưa chuộng, ôm ấp đìều phi và ghét bỏ cái
thị, nghĩa là, người đời vì “tham giận kiêu căng, si mê lầm lạc” nên lấy trái
làm phải. Cho phải là trái, nhận giặc làm con. Đó chính là nguyên nhân gây ra
khổ đau, loạn lạc, sanh tử luân hồi vô cùng tận. Đúng như Đại Chính tạng, tập
52, trang 491 đã nói:
“Thế bất đạt giả đa tương thị phi, dĩ thị kỳ sở thị nhi phi kỳ sở
bất thị, bất phi kỳ sở phi, nhi phi kỳ sở bất phi. Thử tắc thị kỳ sở phi
nhi phi bỉ sở thị hỉ.”
Nghĩa là:
Ở đời, những kẻ không thông đạt thường hay lầm lẫn giữa thị và
phi, nên thay vì khen điều phải, chê điều trái thì họ lại theo điều trái, bỏ điều
phải. Như thế là họ đã lấy trái làm phải, lấy phải làm trái vậy!
Ngoài ra, lại còn tự thi nhi phi nghĩa là mới xem qua hình như
đúng song kỳ thực sai. Đó là lời nói và việc làm của những kẻ đạo đức giả, ức
tưởng, đoán mò, ngôn hành theo sự chi phối của bản năng, lợi danh, vô minh hay
sự hiểu biết phiến diện, hạn hẹp của kẻ mù rờ voi. Đây cũng là nhân tố gây ra
khổ não cho xã hội nhân quần nói chung. Vì đương sự đã lấy điểm làm diện , lấy
bộ phận làm toàn thể.
Trên đây chúng ta quan niệm thị phi theo thực tế tương đối của thế
gian. Dưới đây là quan niệm về thị phi theo nghĩa xuất thế tuyệt đối.
Theo nghĩa này, trước hết nên nói đến điều thứ 10 trong Mười Điều
Tâm Niệm của Luận Bảo Vương Tam Muội:
“Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả.”
Biện bạch là cốt tìm cho ra lẽ phải trái. Nếu mình phải (thị) thì
người trái (phi) và ngược lại. Nhưng một khi đã có ý tranh biện hơn thua thì tự
khắc cái lằn ranh nhân (người khác) ngã liền dựng dậy. Đã thấy có ngã nhân tức
là tinh thần đại bi đồng thể trong tứ vô lượng tâm bị nhạt nhòa ngay. Ấy là mầm
mống tạo ra loạn lạc triền miên trên địa cầu bé bỏng của chúng ta. Hơn nữa, như
trên đã nói nhân và ngã chỉ là sự kết hợp tạm thời của hai yếu tố tinh thần lẫn
vật chất. Vì thế, nó tạm bợ, mong manh như hạt sương mai trên đầu ngọn cỏ, có
đó rồi không đó.Mặt thật của ngã nhân là vậy, do đó, sự tranh biện hơn thua giữa
mình và người có khác chi sự giành giật vô nghĩa của hai giọt sương đâu? Đúng
như lời dạy trong kinh Pháp Cú. Phẩm Song Yếu, câu thứ 6:
“Người kia không hiểu rằng chúng ta sắp bị hủy diệt nên mới phí sức
tranh biện hơn thua. Nếu hiểu thì chẳng còn tranh biện nữa.”
Bởi vậy, Đức Phật dạy người tu hành nên: “ Lấy oan ức làm cửa ngõ
đạo hạnh. Lấy hoạn nạn làm giải thoát. Lấy ma quân làm bạn đạo. Lấy chống
đối làm nơi giao du.”
Nên chi, chấp thuận trở ngại thì lại thông suốt, mong cầu thông suốt
thì sẽ bị trở ngại. Đức Thế Tôn thực hiện tuệ giác bồ đề trong sự trở ngại, như
Ương Quật hành hung, Đề Đà khuấy phá mà Ngài đều giáo hóa cho thành đạo cả. Như
vậy, há không phải chính sự chống đối lại làm sự thuận lợi và sự phá hoại trở
nên sự tác thành cho ta sao?
Lấy lời Phật dạy làm nền tảng, trong bài khuyến thế ca. Hàm Sơn đại
sư cũng chủ trương:
“Thị phi bất tất tranh nhân ngã
Bỉ thử hà tu luận đoản trường
Thế sự do lai đa khuyết
hãm
Huyễn khu yên đắc miễn vô thường
Cật tá khuy xứ nguyên vô ngại
Thoái nhượng tam phân giã bất phương…”
Đại ý nói, cuộc đời xưa nay vốn dĩ bất toàn, què quặt thì thân mạng
chúng ta làm sao có thể tránh thoát được sự biến hoại, bọt bèo? Sống trong một
thực trạng bèo mây bấp bênh như thế sao người đời cứ mãi tranh giành được mất
hơn thua? Chúng ta nhường một bước, chịu thiệt thòi một chút có sao đâu? Vì thắng
hay bại cuối cùng cũng đều chịu kiếp phù vân, có ai lột da để sống đời? Phương
chi trong kinh Pháp Cú, Phẩm An Lạc, câu 201 Đức Thế Tôn đã huấn thị rành rành:
“ Thắng lợi bị thù oán, thất bại bị đau khổ, chẳng màng tới thắng
bại, sẽ sống hòa hiếu an vui.”
Nhưng muốn an vui, hòa hiếu thì trước hết mọi người phải nhận rõ địa
vị và trách vụ của mình. Ngoài ra, còn phải biết tôn trọng lẽ phải, biết phục
thiện và biết lắng nghe. Được vậy thì thế gian này là Tịnh Độ chứ chẳng cần tìm
đâu xa. Vì chính cái ý niệm biết trọng lẽ phải (Tri Thị) tôn trọng và thực hành
lẽ phải, ấy là Đâu Suất Tịnh Độ chứ chẳng phải nhọc công kiếm tìm, như Ngài Hàm
Sơn dạy:
“ Tri thị tiện đăng Đâu Suất giới
Hà lao thử ngoại mích tây phương.”
Với con người tương đối, sống trong hữu hạn, nên chúng ta thấy có:
ngã, nhân, bỉ, thử, thị, phi…Nhưng với nhãn quang của người đã minh đạt Chánh
Pháp thì ranh giới thị phi không còn, vì phiền não là bồ đề ngoài phiền não
không có bồ đề, ngoài thế gian pháp không có Phật Pháp, chẳng có bồ đề: “ Phật
Pháp bất ly thế gian pháp, ly thế mích bồ đề, kháp như cầu thố giác: Phật Pháp
không tách khỏi thế pháp, lìa thế gian để tìm bồ đề (sự giác ngộ) chả khác gì
đi tìm sừng thỏ.” ( Lục Tổ Huệ Năng).
Một khi đã sống trọn vẹn với tinh thần bất tức bất ly thì còn đâu
ranh giới giữa thị phi, bồ đề và phiền não. Từ đó chúng ta mới chịu đựng được mọi
phiền não, mới tự tại giải thoát và ung dung đứng ngoài, đi trên tất cả thị
phi. Đó là thâm ý của Ngài Bách Trượng Hoài Hải:
“ Phiền não dĩ nhẫn nhục vi bồ đề
Thị phi dĩ bất biện vi giải thoát”
Người đời thường bảo: “Hay nói không bằng nói hay.” Bởi thế, không
tranh biện ( bất biện) chẳng phải không biết, kỳ thực vì biết quá nhiều, tránh
lối sống nhị nguyên, vì muốn thực hành lời dạy nhiệm mầu của đấng Vô Thượng
Giác:
“Nên im lặng như hiền thánh
Nên nói năng như hiền thánh.”
Thế nào là im lặng và nói năng như hiền thánh?
Xin xem câu chuyện này:
“Hai thầy trò Thiện Niệm và Phạm Ma Đạt. Thiện Niệm đi sau Đức Phật
và tìm mọi cách nói xấu Ngài. Trái lại, người học trò là Phạm Ma Đạt thì hết sức
ca ngợi Đức Phật.
Đức Điều Ngự hoàn toàn im lặng và cứ thế đi với dáng vẻ an tường tự
tại.
Về đến tịnh xá, các
thầy tỉ khưu bàn bạc với nhau: Lạ quá! Đấng Thiên Nhân Sư là bậc có đủ thiên
nhãn, thiên nhĩ thông, sao người ta làm vậy mà không nghe thấy Ngài nói năng gì
cả?
Nhân đấy Đức Phật dạy hai câu vừa dẫn trên đây.”
Suốt 45 năm giáo hóa, bằng vào thái độ siêu phàm và cao diệu, đức
Phật không những chịu đựng được mọi điều ác của thế nhân mà còn giáo hóa được kẻ
ác như bài học thứ 7 trong kinh Bốn Mươi Hai Chương:
“Hữu nhân văn ngô thủ đạo, hành đại nhân từ, cố trí mạ Phật.
Phật mặc bất đối.
Mạ chỉ, vấn viết:
Tử dĩ lễ tùng nhơn, kỳ nhân bất nạp, lễ quy tử hồ?
Đối viết: Quy hỉ
Phật ngôn: Kim tử mạ ngã, ngã kim bất nạp.
Tử tự, trì họa quy tử thân hỉ!
Do hưởng ứng thanh, ảnh chi tùy hình, chung vô miễn ly
Thận vật vi ác!”
Nghĩa là:
Có người nghe nói Đức Như Lai là bậc đạo hạnh, có lòng thương bao
la, nên họ cố ý đến mắng Ngài.
Đấng Toàn Giác im lặng.
Khi người ấy ngừng chửi, Đức Phật hỏi:
Ông đem lễ vật cho ai, người ta không nhận thì ông đem vật ấy về
phải không?
Vâng!
Phật dạy: Cũng thế, nay ông mắng tôi, tôi không ưa nghe tức ông tự
mang vạ vào thân, như vang (echo) theo tiếng, bóng với hình không bao giờ rời
nhau. Xin đừng làm ác!
Thử hỏi, nếu không có một thái độ siêu việt, bao dung, thiện xảo
như Đấng Chánh Biến Tri thì việc gì sẽ xẩy ra?
Muốn xứng đáng là con Phật, chúng ta cần phải học và hành theo hạnh
Phật. Có thế mới lợi mình, lợi người và không bị người đời chê là “ hữu danh vô
thực” hay “ danh bất phù thực”.
Để kết thúc, người viết xin tặng bạn đọc 2 bài thơ:
Bài 1: Phiên âm:
Nghịch cảnh lai thời thuận cảnh nhân
Nhân tình sơ xứ đạo tình thân
Mộng trung hà tất tranh nhân ngã
Phóng hạ thân tâm kiến càn khuân (khôn)
Dịch thơ:
Nghịch cảnh ấy là nhân thuận cảnh
Nhơn tình xa thì đạo tình gần
Tranh chấp làm chi trong mộng huyễn
Không màng tất cả thế mới chân.
Bài 2: Phiên âm
Thế
sự phân phân như thiểm điện
Luân hồi cổn cổn tự vân phi
Kim nhật bất tri minh nhật sự
Na hữu công phu luận thị phi.
Dịch thơ:
Thế sự qua nhanh như điện chớp
Luân hồi tuôn chảy giống mây bay
Nay còn mai mất nào ai biết
Công đâu ngồi tán chuyện dở hay.
Tóm lại, qua sự trình bày sơ lược trên đây chúng ta đã hiểu ít nhiều
về thị phi tương đối và tuyệt đối. Điều cốt yếu là phải linh động, sáng suốt để
tránh cái nạn nhân ế phế thực nghĩa là vì hay mắc nghẹn trong khi ăn nên bỏ ăn
để bị chết đói một cách oan uổng.
Thích Chánh Lạc
<< in silence, man can most readily preserve his integrity >>.Meister Eckhart
<< The most profound statements are often said in silence >>.
Lynn Johnston
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)





















